Trang chủ | 4C Thành Đoàn | Liên đội CĐ 6 | Liên đội 303 BG | Thông tin chung
       Giới thiệu  
       Thông tin  
       Lịch sử đơn vị  
       Phong trào viết thơ  
       Văn hóa - Nghệ thuật  
       Liên lạc - Góp ý  

TÓM TẮT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TIẾNG VIỆT – Trung Trí.

Gần đây, có một số ý kiến về cải tiến chữ Quốc ngữ, đễ rộng đường tìm hiểu, xin tóm tắt một số lịch sử hình thành và phát triển Tiếng Việt để bạn đọc xem cho biết. Tiếng Việt, còn gọi tiếng Việt Nam hay Việt ngữ, là ngôn ngữ của người Việt (người Kinh) và là ngôn ngữ chính thức tại Việt Nam.

 

Đây là tiếng mẹ đẻ của khoảng 85% dân cư Việt Nam, cùng với hơn bốn triệu người Việt hải ngoại. Tiếng Việt còn là ngôn ngữ thứ hai của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Mặc dù tiếng Việt có một số từ vựng vay mượn từ tiếng Hán và trước đây dùng chữ Nôm — một hệ chữ dựa trên chữ Hán — để viết nhưng tiếng Việt được coi là một trong số các ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á có số người nói nhiều nhất (nhiều hơn một số lần so với các ngôn ngữ khác cùng hệ cộng lại). Ngày nay, tiếng Việt dùng bảng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ, cùng các dấu thanh để viết. Tiếng Việt được chính thức ghi nhận trong hiến pháp là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam. Tiếng Việt bao gồm cách phát âm tiếng Việt và chữ Quốc ngữ để viết. Tuy nhiên, chưa có bất kỳ văn bản nào ở cấp nhà nước quy định giọng chuẩn và quốc tự của tiếng Việt.

Cũng cần lưu ý tránh nhầm lẫn với Việt ngữ (粵語) hay tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ được sử dụng ở miền nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây) cũng như ở Hồng Kông và Ma Cao.

Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế đặt mã ngôn ngữ hai chữ cái cho tiếng Việt Nam là "vi" (tiêu chuẩn ISO 639-1) và đặt mã ngôn ngữ ba chữ cái cho tiếng Việt là "vie" (tiêu chuẩn ISO 639-2).[7]

Thời kỳ đầu: Chữ Quốc ngữ được phổ biến sâu rộng và định chế vào khoảng thế kỷ 19 và 20 nhưng đã xuất hiện phôi thai từ lâu, có lẽ ngay từ năm 1533 khi giáo sĩ phương Tây tên là I-nê-khu đi từ đường biển vào truyền đạo Thiên Chúa ở tỉnh Nam Định (giáo phận Bùi Chu). Các giáo sĩ Tây phương đầu tiên đến Việt Nam và giao tiếp với người Việt rồi vì nhu cầu học hỏi ngôn ngữ Việt (lúc đó còn dùng chữ Hán và chữ Nôm) để giao tiếp với người bản xứ mà bắt đầu ghi lại bằng cách phiên âm tiếng Việt dưới dạng chữ La tinh. Trước tiên là các giáo sĩ Bồ Đào Nha dòng Phanxicô; kế đến là các giáo sĩ Tây Ban Nha dòng Đa Minh rồi dòng Tên. Sang thế kỷ 17 thì số văn tịch ghi lại dấu vết loại chữ này càng nhiều, kèm theo những biến đổi hoàn chỉnh với ký hiệu thanh giọng thêm chính xác. Tên tuổi những giáo sĩ đã tiên phong góp công trong việc hoàn chỉnh lối chữ này gồm có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Francisco de Pina.

Giáo sĩ Đắc Lộ (tức Alexandre de Rhodes) người Pháp được coi là người có công nhiều trong việc định chế chữ quốc ngữ qua cuốn tự điển phiên âm Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum mà ông soạn và in ra năm 1651. Tuy là người Pháp nhưng ông lại dùng tiếng Bồ Đào Nha trong cuốn tự điển cùng những đóng góp của tiếng Ý và tiếng Pháp. Soạn giả còn ghi rõ ông mượn dấu sắc, huyền, ngã từ tiếng Cổ Hy Lạp mà vẫn không đủ nên phải thêm iota subscriptum (dấu nặng) và dấu hỏi để biểu lộ thanh giọng của tiếng Việt.

So sánh ký hiệu thì âm nh theo tiếng Bồ Đào Nha; gi theo tiếng Ý; còn "ph" theo tiếng Cổ Hy Lạp.

Các văn bản Công giáo thời kỳ này là tài liệu ghi chép quan trọng về cách phát âm của tiếng Việt cổ. Trong những tài liệu còn lưu trữ được là bản thảo "Manescrito, em que se Prou a, que a forma do Bauptisma Pronunciada em Lingoa Annamica he Verdadeira" do giáo sĩ Giovanni Filippo de Marini (1608-1682) người Ý thuộc dòng Tên, sang đến Đàng Ngoài giảng đạo năm khoảng thập niên 1650, thì lối viết chữ Quốc ngữ đã có ở giai đoạn đó.

Tau rửa mầi nhân danh Cha, ủa Con, ủa Spirite Santo. Tau lấy tên Chúa, tốt tên, tốt danh, tốt tiếng, vô danh, cắt ma, cắt xác, Blai có ba hồn bảy uía, Chúa Bloy Ba Ngôy nhẩn danh...

Thế kỷ 19: Gia Định báo, tờ báo tiếng Việt đầu tiên dùng chữ Quốc ngữ, ra mắt năm 1865.Một mốc quan trọng của chữ Quốc ngữ là cuốn tự điển của giáo sĩ Jean-Louis Taberd, in năm 1838, căn cứ vào những sửa chữa của Giám mục Bá Đa Lộc.

Đọc qua, ngoài một số chữ khác biệt cách viết nhưng ý đã rõ, không là trở ngại cho độc giả thế kỷ 21. Tuy nhiên vào thời điểm này phạm vi dùng chữ Quốc ngữ vẫn hạn chế trong việc ghi chép của cộng đồng Công giáo. Ngoài ra đại chúng người Việt không dùng lối chữ này.

Địa vị chính thức: Chữ Quốc ngữ trên chặng đường hơn 300 năm vẫn không được công nhận là văn tự chính thức cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm lấy Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Nho trong các công văn ở Nam Kỳ.

Nghị định 82 ký ngày 6 Tháng 4, 1878 do Thống đốc Nam Kỳ Lafont ký cũng đề ra cái mốc hẹn trong bốn năm (tức năm 1882) thì phải chuyển hẳn sang chữ Quốc ngữ: “Kể từ mồng một Tháng Giêng năm 1882 tất cả văn kiện chánh thức, nghị định, quyết định, lịnh, án tòa, chỉ thị... sẽ viết, ký tên và công bố bằng chữ quốc ngữ; nhân viên nào không thể viết thơ từ bằng chữ quốc ngữ sẽ không được bổ nhậm và thăng thưởng trong ngạch phủ, huyện và tổng...”. Ngày 1 Tháng Giêng năm 1879 thì lại có lệnh khẳng định các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ. Cũng năm đó chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt đầu ở các thôn xã Nam Kỳ phải dạy lối chữ này. Để khuyến khích việc truyền bá chữ Quốc ngữ, nhà chức trách thuộc địa Nam Kỳ còn ra nghị định ngày 14 Tháng 6 năm 1880 giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ.

Thế kỷ 20 và 21: Sang thế kỷ 20 thì chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.

Nhóm nhà văn “Tự Lực Văn đoàn” và Khái Hưng một thành phần cột trụ, giúp phát triển văn chương chữ Quốc ngữ vào đầu thế kỷ 20. Theo tư liệu trong "Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Hội Truyền bá Quốc ngữ (25/5/1938)" do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 25/5/2008, thì Hội ra đời ngày 25/5/1938, đến ngày 29/7/1938 Thống sứ Bắc Kỳ công nhận sự hợp pháp của Hội. Đó là dấu mốc chắc chắn cho vị thế "chữ Quốc ngữ". Việc cổ động cho học "chữ Quốc ngữ" ở toàn cõi nước Việt gắn với các phong trào cải cách trong giai đoạn 1890 - 1910 như Hội Trí Tri, phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và ngành báo chí mới hình thành, đã thừa nhận và cổ vũ học "chữ Quốc ngữ", coi là phương tiện thuận lợi cho học hành nâng cao dân trí.

Vị thế pháp lý của chữ quốc ngữ: Tuy được gọi là "chữ Quốc ngữ", nhưng hiện không rõ nó được công nhận là ở tầm quốc gia từ khi nào, mà là mặc nhiên thừa nhận là "chữ để viết Quốc ngữ". Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, chương I điều 5 mục 3 ghi là "Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt", khẳng định tiếng Việt là Quốc ngữ và để trống "chữ viết".

Trung Trí .

Nguồn sưu tầm: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.


Hình minh họa từ Internet.



CÁC TIN TỨC KHÁC :
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 12 – Minh Hiền. (2018-09-12)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 11 – Minh Hiền. (2018-09-11)
CÁC NHÂN VẬT HÀI TRONG CHUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM – Minh Hiền. (2018-09-10)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 10 – Minh Hiền. (2018-09-10)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 9 – Sưu Tầm. (2018-09-09)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 8 – Sưu Tầm. (2018-09-08)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 7 – Sưu Tầm. (2018-09-07)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 6 – Sưu Tầm. (2018-09-06)
CHUYỆN VUI CƯỜI BUỔI SÁNG Kỳ 5 – Sưu Tầm. (2018-09-05)
CHUYỆN VUI BUỔI SÁNG Kỳ 4 – Sưu Tầm. (2018-09-04)

free counter
  Bản quyền thuộc Câu lạc bộ Cựu TNXP TP.HCM
  Địa chỉ: 760 lầu 2, Trần Hưng Đạo, Phường 7, Quận 5, TP.HCM

Phát triển web:    Đông Nam Á